Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra đạo Phật, một trong những tôn giáo có tầm ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới trong lịch sử cũng như hiện nay.

   Lịch sử Đức Phật Thích – ca – mâu – ni.
“Theo sự xác định niên đại truyền thống, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakya thub-pa), còn được gọi là Đức Phật Cồ Đàm (Gau-ta-ma), sống trong khoảng thời gian từ năm 566 đến 485 trước Công Nguyên ở miền Trung Bắc Ấn Độ”.

Đức Thích Ca Mâu Ni (Shakya thub-pa) được sinh ra trong một gia đình chiến binh, quý tộc giàu sang ở nước Thích Ca (Shakya), có thủ đô là thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu, Ser-skya’i gnas), nằm ở biên giới giữa Ấn Độ và Nepal ngày nay. Ngài sanh ra là thái tử và có tên là Tất Đạt Đa (Siddhartha,Don-grub). Phụ thân ngài là Tịnh Phạn (Shuddhodana, Zas gtsang-ma). Mẫu thân của Ngài là Ma Gia (Maya-devi, Lha-mo sGyu-‘ phrul-ma). Đức Phật được thụ thai một cách thần kỳ trong giấc mơ, bà Ma Gia thấy con voi trắng sáu ngà đi vào bên hông bà và lời tiên tri của nhà hiền triết A Tư Đà (Asita), rằng đứa bé sẽ trở thành một ông vua vĩ đại, hoặc một nhà hiền triết cao quý. Về sau, cũng có việc mô tả sự đản sanh thanh tịnh của Đức Phật từ bên hông của mẹ ngài ở một nơi không xa thành Ca Tỳ La Vệ, trong vườn Lâm TỳNi (Lumbini Grove, Lumbi-na’i tshal), việc Ngài bước đi bảy bước lúc đản sanh và nói “ta đã đến nơi”, cùng với cái chết của mẹ ngài sau khi sanh ra ngài.

Ngài tư bẩm thông minh từ thuở nhỏ. Bảy tuổi Ngài theo học các đạo sĩ phái Bà-la-môn, như ông Tỳ-xa-mật-đa-la (Visvamitra) và ông tướng võ Sằn-đề-đề-bà (Ksautidiva). Dần dần Ngài thông hiểu các khoa, nhất là nghị luận, triết lý. Chính trong khi bắt đầu hiểu biết ấy, cũng là khi Ngài bắt đầu cảm thấy chán nản cuộc đời vinh hoa phú quý và buồn đau cho cuộc thế của nhân sinh.

Dân tộc Ấn Độ bấy giờ chia ra làm 5 phái rõ rệt :chủng tộc Bà-la-môn (Brahmana), tức là các đạo sĩ học hành uyên bác, giới hạnh đoan nghiêm, văn hóa học thuật của dân tộc đều ở trong tay các bậc này cả; Chủng tộc Sát đế lỵ (Ksatrya), tức là dòng dõi vua chúa; Chủng tộc Phệ xá (Vaisya), tức là hạng buôn bán bình dân; Chủng tộc Thủ đà la (Soudra), gồm những dân tộc tôi tớ lao động; chủng tộc còn lại là Ba-ly-a (Pariahs), tức là những dân tộc mọi rợ.  Ngài là dòng quý tộc nhưng xét ra dòng quý tộc chỉ có quyền mà không có thế, vì bao nhiêu học thuật, luật pháp đều ở trong tay phái Bà-la-môn cả. Hằng ngày, Ngài thường nghe và thấy bao nhiêu chuyện đau khổ của nhân loại, và dù được sinh vào nơi quyền quý, nơi mà người đời đã cho là sung sướng, cũng không tránh khỏi bốn cái ách “sinh, lão, bệnh, tử”. Thế là Ngài bắt đầu ngờ vực mới triết lý truớc sự sống đau khổ của loài người. Ngài lại càng buồn rầu khi thấy chỉ có mình Ngài cảm biết nỗi đau khổ ấy, còn biết bao nhiêu người vẫn sống mê man… tranh đua, áp chế, cướp giết lẫn nhau, gây thêm cho nhau bao nhiêu là cảnh khổ não thương tâm, mà người đời vẫn triền miên sống trong vòng tội lỗi tối tăm, trong cảnh khổ không bờ bến mà không hề tự biết? Nhân đó, Ngài mới nhóm trong tâm một lý tưởng: “Phải tìm lấy chân lý đủ cứu vớt chúng sinh ra ngoài bể khổ”. Từ đó Ngài cố tìm trong kinh điển, trong đạo lý để mong tìm thấy một chân lý mà giải luận cuộc nhân sinh.

Năm 16 tuổi, Ngài vâng lời vua cha cưới 3 vị phu nhân La-gia (Gapika), Gia-du-đà-la (Yasodhara), Lộc-giả (Urganika). Bà Gia-du-đà-la sinh được một con trai lấy tên là La-hầu-la. Nhưng càng ngày Ngài càng chán nản đời sống tầm thường dù vợ đẹp con yêu ấy.

Năm 19 tuổi, khi sự chán nản lên đến cực độ, Ngài quyết bỏ vợ con, bỏ cuộc đời vinh hoa phú quý, vào hang núi chịu đói rét, tu khổ hạnh để mong tìm nghĩ được một phương pháp gì cứu loài người ra khỏi vòng khổ ải, và bầy cảnh cực lạc trên thế gian. Trong mấy năm ấy, Ngài đi tìm hỏi mấy vị đạo sĩ có danh tiếng, nhưng Ngài thấy triết lý của vị nào cũng không được siêu thoát lắm. Ngài liền vào ẩn trong dãy Tuyết Sơn (tức là núi Già-xà-gaya trong sách Phật ngày sau gọi là Khổ hạnh lâm) để tu tập thiền định. Trong 6 năm trời tu khổ hạnh, nhưng Ngài không thấy chứng được đạo quả gì. Ngài mới đi đến núi Tượng Đầu (Gajasirsa) bên sông Ni-liên-thuyền (Nai-Rạdjjâna) tắm rửa xong, Ngài thọ bát sữa của nàng mục nữ cúng, rồi Ngài ở đó một mình tỉnh tọa suy xét. Ngài thề: “Ta ngồi ở đây nếu không chứng được đạo quả, thì dù có tan nát thân này, ta quyết không bao giờ đứng dậy”. Dưới gốc cây Tất-bát-la (Pippala), Ngài ngồi định tâm, vừa định tâm 48 ngày thì, một hôm, khi sao mai vừa mọc, Ngài bỗng thấy trong tâm sáng suốt, rõ thấy chân lý của vũ trụ và nguồn gốc sinh tử của chúng sinh: Ngài đã thành Phật. Bấy giờ Ngài vừa 31 tuổi, ngày ấy nhằm ngày mồng 8 tháng chạp lịch Trung Hoa (Ngày nay ở Nam thành Patna chừng 110 cây số có thành Già gia (Gaya) và cách thành này 13 cây số có linh địa gọi là Phật-đà Già-gia (Bouddha Gaya), tức là chỗ Ngài thành Phật vậy. Còn cây Tất-bát-la là chỗ Ngài ngồi nhập định, sau gọi là cây Bồ đề, dấu tích nay vẫn còn.

  Đức Thích Ca Mâu Ni đã dành những tuần lễ đầu tiên để chiêm nghiệm đến giáo pháp thậm thâm vi diệu mà Ngài đã chứng đắc, và thọ hưởng pháp lạc mà quả phúc mang đến. Đức Phật cũng đã để lại cho thế gian một bài học luân lý đẹp đẽ, đó là sự tỏ lòng tri ân sâu sa đối với cây bồ đề che nắng che mưa cho Ngài trong suốt thời gian tầm đạo. Đức Thế Tôn đã đứng cách một khoảng xa để chiêm bái đại thọ suốt trong một tuần. Sau này, nơi đây vua Asoka (A Dục) dựng lên một tháp kỷ niệm gọi là Animisalocana Cetiya

Đức Thích Ca Mâu Ni đã vì một đại nguyện lớn lao, một lòng từ vô lượng mà khước từ mọi hạnh phúc, quyền uy, tiện nghi vật chất để cầu đạo giài thoát. Và cũng với đại tâm đại nguyện ấy, sau khi chứng được đạo quả Vô thượng Bồ đề, Ngài đã dâng hiến thời gian cho công cuộc hằng hóa độ sanh. Đức Thế Tôn đã chu du khắp đất nước Ấn Độ thời xa xưa ấy, từ cực Bắc dưới chân núi Hymalaya, đến cực Nam bên ven sông Gange (sông Hằng).
Đức Thế Tôn đã suy nghĩ đến giáo lý giải thoát sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh cao thượng, siêu lý luận, ly dục, vô ngã mà Ngài đã chứng đắc; còn chúng sanh thì luôn chìm sâu vào ái dục, định kiến, chấp ngã với nhiều thủ trước… Làm thế nào để con người dễ dàng chấp nhận giáo lý ấy? Và rồi, với trí tuệ của bậc giác ngộ, Đức Thế Tôn đã quan sát thế gian và thấy rằng: “Có hạng chúng sinh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời; có hạng độn căn, lợi căn; có hạng thiện tánh, ác tánh; có hạng dễ giáo hóa, khó giáo hóa… Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước; có loại sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước thấm ướt…” (Trung Bộ I). Và như vậy, với hình ảnh những cành sen vươn ra khỏi mặt nước, những cành ở lưng chừng, những cành ở sâu trong lòng nước v.v… đã gợi lên trong Thế Tôn về căn cơ bất đồng của mọi người. Có những căn cơ thấp như cánh sen ở đáy hồ, có những căn cơ trung bình như những cánh sen ở lưng chừng nước, cũng có những căn cơ cao có thể tiếp thu trọn vẹn giáo pháp của Ngài như những cành sen đã nhô ra khỏi mặt nước. Dù sống trong nghiệp quả bất đồng, nmỗi chúng sanh đều có hạt giống giác ngộ, như hoa sen dù sống trong bùn tanh hôi, vẫn tỏa hương thơm ngát.

Với ba lần thỉnh cầu và phát khởi thiện nguyện hộ trì giáo pháp của Phạm Thiên, Đức Thế Tôn quyết định gióng lên tiếng trống Pháp và bắt đầu thực hiện sứ mạng của mình. Ngài tuyên bố với thế gian, với loài người, với cõi trời và với tất cả, con đường đạo cứu khổ và diệt khổ, con đường dẫn đến cõi bất sanh bất diệt, cõi Niết bàn đã được khai mở: “Cửa bất tử rộng mở, cho những ai chịu nghe…” (Trung Bộ I). Và bánh xe Pháp bắt đầu chuyển vận.

Đạo Phật có hai nhánh chính. Tiểu thừa (Hinayana) nhấn mạnh đến sự giải thoát cá nhân, trong khi Đại thừa (Mahayana) chú trọng đến việc tu tập thành một vị Phật toàn giác để phổ độ chúng sinh một cách hoàn hảo nhất. Mỗi nhánh lại có nhiều phân nhánh. Tuy nhiên, hiện nay, ba hình thức chính còn tồn tại: một là Tiểu thừa, được biết như Theravada, ở Đông Nam Á, và hai nhánh Đại thừa, đó là các truyền thống Phật giáo Trung Quốc và Tây Tạng.

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng ngọc phỉ thuý

Đạo Phật là tôn giáo chính của Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử. Hàng triệu người dân đã đi quy và thờ Phật tại gia. Những bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni được làm bằng ngọc phỉ thuý thường mang dáng dấp của một vị Phật an tọa ngồi thiền trên đài hoa sen. Hẳn ai trong chúng ta cũng biết rằng, hoa sen là một loài hoa sinh ra và lớn lên ở nơi bùn lầy nhưng trái lại, nó không hề bị vương mùi hôi của bùn mà vẫn lớn lên với vẻ đẹp lung linh, hương thơm ngan ngát. Bởi vậy mà hoa sen lâu nay đã luôn là biểu tượng của sự thanh khiết và trong sạch. Thích Ca Mâu Ni Phật cũng vậy, Ngài là vị Phật biểu trưng cho sự thánh thiện không vướng bụi trần trong nhân gian.

Ngọc được sinh ra từ rất lâu trước đây trong lòng đất mẹ. Khi được sử dụng để tạc tượng Phật, những viên ngọc sẽ khiến bức tượng như tỏa ra ánh hào quang lung linh, tăng thêm phần quý phái cho Ngài. Điều này chính là một trong những lý do khiến người ta rất chuộng sử dụng những bức tượng Phật Thích Ca bằng ngọc để trang trí nhà cửa. Không chỉ vậy, năng lượng phong thủy của ngọc khi kết hợp với sức mạnh tâm linh của Phật Thích Ca sẽ tạo ra một bức tượng hoàn hảo. Đặt bức tượng này trong nhà sẽ giúp gia chủ thanh tẩy mọi điều xui xẻo, muộn phiền và không may mắn, đem đến tài lộc, danh vọng và sự bình an cho mọi thành viên trong nhà.

Thờ tượng Phật Thích Ca cũng giống như thờ những vị Phật khác, cần có lòng thành tâm sâu sắc. Chỉ cần bạn một lòng hướng thiện, tâm thành kính theo Phật thì ắt sẽ được Ngài phù hộ độ trì, đem đến những điều tốt đẹp như mong muốn cho gia đình. Không chỉ vậy, khi tâm hướng thiện thì ắt cuộc sống cũng sẽ trở nên thoải mái, dễ dàng và như ý muốn hơn.

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng ngọc phỉ thuý

Trả lời

Your email address will not be published. Required fields are marked *

xóa nội dungPost comment